[HICC.VN]

Học từ vựng là một phần thiết yếu trong học ngoại ngữ vì ý nghĩa của từ mới thường được nhấn mạnh, dù là trong sách nhiều lần trong lớp học. Nó cũng là trung tâm của việc giảng dạy ngôn ngữ và có vai trò tối đa đối với người học ngôn ngữ. Có nghiên cứu đã nêu ra rằng việc dạy từ vựng cũng có thể có vấn đề vì nhiều giảng viên không tự tin giúp thực hành tốt nhất việc giảng dạy từ vựng và đôi lúc không biết bắt đầu tiến hành khởi động từ đâu giúp tập trung vào việc học từ (Berne & Blachowicz, 2008) Trong nội dung bài viết này, tác giả tóm tắt nghiên cứu quan trọng của từ vựng và giải thích nhiều nhân viên kỹ thuật được sử dụng bởi những giảng viên lúc dạy tiếng Anh; bên cạnh cạnh đó, nội dung bài viết cũng thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả về những vấn đề này và ứng dụng lúc giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên trường Đại học Công nghiệp Dệt May Hà Nội.

Từ khóa:Từ vựng, học ngôn ngữ, giảng dạy tiếng Anh.

những bạn đang xem: Từ vựng là gì

1. Giới thiệu

Từ vựng là một trong những lĩnh vực kiến thức về ngôn ngữ, đóng một vai trò to cho người học trong việc tiếp thu ngôn ngữ (Cameron, 2001). Harmon, Wood, & Keser, (2009) cũng như Linse (2005) người học phát triển từ vựng là một khía cạnh quan trọng trong phát triển ngôn ngữ của họ. Mặc dù đã mắc phải lãng quên trong một thời gian dài, những nhà nghiên cứu ngày càng giúp ý tới từ vựng, ví dụ Carter và McCarthy (1988), Nation (1990), Arnaud và Bejoint (1992), Huckin, Haynes và Coady (1995), Coady và Huckin (1997), Schmitt (1997, 2000) Read (1997).

Học từ vựng là một phần thiết yếu trong học ngoại ngữ vì ý nghĩa của từ mới thường được nhấn mạnh, cho dù trong sách nhiều lần trong lớp học. Nó cũng là trung tâm của việc giảng dạy ngôn ngữ và có vai trò đối với người học ngôn ngữ. Nghiên cứu gần đây nêu ra rằng việc dạy từ vựng gặp nhiều vấn đề vì nhiều Giảng viên không tự tin trong giảng dạy từ vựng và đôi lúc không biết bắt đầu tiến hành khởi động từ đâu giúp tập trung vào việc học từ (trích dẫn từ: Berne & Blachowicz, 2008)

Kiến thức từ vựng thường được xem là một công cụ quan trọng đối với người học ngôn ngữ thứ hai vì vốn từ vựng hạn chế trong ngôn ngữ thứ hai cản trở giao tiếp thành công. Nhấn mạnh vai trò của việc tiếp thu từ vựng, Schmitt (2000) nhấn mạnh rằng kiến ​​thức từ vựng là trọng tâm của năng lực giao tiếp và giúp có được ngôn ngữ thứ hai. 55) Nation (2001) mô tả thêm về mối quan hệ giữa kiến ​​thức từ vựng và sử dụng ngôn ngữ là bổ sung: kiến ​​thức về từ vựng cho phép sử dụng ngôn ngữ và ngược lại, sử dụng ngôn ngữ dẫn tới sự gia tăng kiến ​​thức từ vựng. vai trò của từ vựng được thể hiện hàng ngày trong và ngoài trường. Trong lớp học, những sinh viên đạt được sở hữu vốn từ vựng đầy đủ nhất. những nhà nghiên cứu như Laufer và Nation (1999), Maximo (2000), Read (2000), Gu (2003), Marion (2008) và Nation (2011) và những người khác đã nhận ra rằng việc tiếp thu từ vựng là điều quan trọng cực kì giúp sử dụng ngôn ngữ thứ hai thành công và đóng một vai trò quan trọng trong việc sinh ra những văn bản nói và viết hoàn chỉnh. Trong tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai (tiếng Anh) và tiếng Anh là ngôn ngữ học ngoại ngữ (EFL) đóng vai trò quan trọng trong tất cả những kỹ năng ngôn ngữ (ví dụ như nghe, nói, đọc và viết (Nation, 2011). Rivers and Nunan (1991 ), hơn nữa, lập luận rằng việc thu được một từ vựng đầy đủ là điều quan trọng cực kì giúp sử dụng ngôn ngữ thứ hai thành công vì không có vốn từ vựng rộng rãi, chúng ta sẽ không thể sử dụng những cấu trúc và chức năng mà chúng ta cũng có thể đã học giúp giao tiếp dễ hiểu. phụ thuộc nhiều vào kiến ​​thức từ vựng và thiếu kiến ​​thức đó là trở ngại chính và là trở ngại to nhất giúp người đọc vượt qua (Huckin, 1995).

1.1. Định nghĩa của từ vựng

cũng có thể được định nghĩa là từ ”chúng ta phải biết giúp giao tiếp hiệu quả; từ ngữ nói (từ vựng biểu cảm) và từ ngữ nghe (từ vựng dễ tiếp thu)” (Neuman & Dwyer, 2009, trang 385). Hornby (1995) định nghĩa từ vựng là ”tổng số từ trong một ngôn ngữ; một danh sách những từ có nghĩa của chúng”. Tuy nhiên, một mục từ vựng mới cũng có thể không chỉ là một từ duy nhất: ví dụ: bưu điện và mẹ chồng, được tạo thành từ hai hoặc ba từ nhưng thể hiện một ý tưởng duy nhất. Một quy ước hữu ích là bao gồm tất cả những trường hợp như vậy bằng phương pháp nói về “mục” từ vựng chứ không phải là “từ”. Ngoài ra, Burns (1972) định nghĩa từ vựng là “kho từ được sử dụng bởi một người, lớp học hoặc nghề nghiệp”. Zimmerman trích dẫn trong Coady và Huckin (1998) “từ vựng là trọng tâm của ngôn ngữ và có vai trò quan trọng đối với việc học ngôn ngữ điển hình”. Hơn nữa, Diamond và Gutlohn (2006) trong ww.readingrockets.org/article nói rằng từ vựng là kiến ​​thức về từ và nghĩa của từ. Từ những định nghĩa trên, cũng có thể kết luận rằng từ vựng là tổng số từ quan trọng cực kì giúp truyền đạt ý tưởng và diễn đạt ý nghĩa của người nói. Đó là lý do tại sao việc học từ vựng rất quan trọng.

1.2. những loại từ vựng

một vài thường xuyên gia chia từ vựng thành hai loại: từ vựng chủ động và thụ động. Harmer (1991) phân biệt giữa hai loại từ vựng này. Loại từ vựng thứ 1 đề cập đến loại mà những sinh viên đã dạy và họ dự kiến ​​sẽ cũng có thể sử dụng. trong lúc đó, từ thứ hai đề cập đến những từ mà những sinh viên sẽ nhận ra lúc họ phát âm chúng, nhưng họ cũng có thể sẽ không thể phát âm được. từ vựng năng suất.

1.2.1. Từ vựng tiếp nhận

Từ vựng tiếp nhận là những từ mà người học nhận ra và hiểu lúc chúng được sử dụng trong ngữ cảnh, nhưng chúng không thể tạo ra. Đó là từ vựng mà người học nhận ra lúc họ nhìn thấy hoặc gặp nhau lúc đọc văn bản nhưng không sử dụng nó trong nói và viết (Stuart Webb, 2009).

1.2.2. Từ vựng năng suất

Từ vựng năng suất là những từ mà người học hiểu và phát âm chính xác và sử dụng một cách chính xác trong nói và viết. Nó liên quan đến những gì quan trọng cực kì cho vốn từ vựng dễ tiếp thu cộng với khả năng nói hoặc viết vào thời gian thích hợp. Do đó, từ vựng hiệu quả cũng có thể được khắc phục như một quá trình tích cực, bởi vì người học cũng có thể tạo ra những từ giúp diễn đạt suy nghĩ của mình cho người khác (Stuart Webb, 2005).

2. những nhân viên kỹ thuật giảng dạy từ vựng.

Phần này báo cáo về kết quả nghiên cứu nhằm mục đích điều tra những nhân viên kỹ thuật được sử dụng bởi một Giảng viên tiếng Anh trong việc trình bày ý nghĩa và hình thức của từ vựng. Thông thường, có một vài nhân viên kỹ thuật liên quan đến việc dạy từ vựng. Tuy nhiên, có một vài điều mà hầu hết những Giảng viên tiếng Anh phải nhớ nếu họ suy nghĩ trình bày một từ vựng mới hoặc những mục từ vựng cho học sinh của họ. Điều đó có nghĩa là Giảng viên tiếng Anh suy nghĩ học sinh nhớ từ vựng mới. Sau đó, nó cần phải được học, thực hành và sửa chữa đổi giúp ngăn học sinh quên. những nhân viên kỹ thuật được Giảng viên sử dụng phụ thuộc vào một vài yếu tố, như nội dung, thời gian có sẵn và giá trị cho người học (Takač, 2008). Điều này làm cho Giảng viên có một vài lý do trong việc sử dụng một vài nhân viên kỹ thuật nhất định trong việc trình bày từ vựng. trong lúc trình bày một mục từ vựng theo kế hoạch, Giảng viên thường kết hợp nhiều hơn nữa một nhân viên kỹ thuật, thay vì sử dụng một nhân viên kỹ thuật duy nhất. Giảng viên, hơn nữa, được đề nghị sử dụng trình bày từ vựng theo kế hoạch càng nhiều càng tốt (Pinter, 2006). Dưới đây là một vài nhân viên kỹ thuật giảng dạy từ vựng như được nêu bởi Brewster, Ellis và Girard (1992).

2.1. Sử dụng những đối tượng

Sử dụng nhân viên kỹ thuật này bao gồm việc sử dụng realia, phương tiện trực quan và trình diễn. Chúng cũng có thể làm việc giúp hỗ trợ người học ghi nhớ từ vựng tốt hơn, bởi vì bộ nhớ của chúng ta cho những đối tượng và hình ảnh rất đáng tin cậy và những nhân viên kỹ thuật trực quan cũng có thể làm việc như những tín hiệu giúp ghi nhớ những từ (Tạp chí quốc tế về giảng dạy và giáo dục tập. III, số 26 ngày 3/2015). Ngoài ra, nhân viên kỹ thuật đối tượng thực của Gairns & Redman (1986) được sử dụng tương ứng cho người mới bắt đầu tiến hành khởi động hoặc người học trẻ và lúc trình bày từ vựng cụ thể. những đối tượng cũng có thể được sử dụng giúp hiển thị ý nghĩa lúc từ vựng bao gồm những danh từ cụ thể. Giới thiệu một từ mới bằng phương pháp hiển thị đối tượng thực thường hỗ trợ người học ghi nhớ từ thông qua trực quan hóa. Đối tượng trong lớp học hoặc những thứ mang đến lớp học cũng có thể được sử dụng.

Đối với nhân viên kỹ thuật này, Giảng viên trường Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội đã sử dụng vào giảng dạy tiếng Anh thường xuyên ngành May cụ thể vào bài học về những cụ thể, nguyên phụ liệu và lỗi sai hỏng trên sản phẩm quần âu, áo sơ mi và áo jacket. Sau đây là một vài ví dụ về sử dụng nhân viên kỹ thuật này đưa vào sử dụng giảng dạy học từ vựng:

Realia (vật thật):người sử dụng những dụng cụ trực quan thực tế có được.

e.g. pants

T. brings real pants into the class.

T. asks, “What’s this?”

e.g. open (adj.), closed (adj.)

T. opens and closes the door

T. says, “Tell me about the door: it’s……….what?”

2.2. Đối tượng vẽ cũng có thể được vẽ trên bảng đen hoặc vẽ trên thẻ flash.

Phương pháp này cũng có thể được sử dụng nhiều lần trong những bối cảnh khác nhau nếu chúng được làm bằng thẻ và được phủ bằng nhựa, cũng có thể hỗ trợ những người học thuận tiện và tốt nhất hiểu và nhận ra những điểm chính mà họ đã học được trong lớp học.

Xem thêm: Hod Là Gì – ý Nghĩa Của Từ Hod

Nhóm sinh viên A được đưa vào sử dụng phương pháp học từ vựng bằng thẻ. Tất cả sinh viên thuộc nhóm này được đáp ứng giấy A4 loại cứng giúp thiết kế thẻ từ vựng. giúp khuyến khích sinh viên thiết kế bộ thẻ từ vựng đẹp mắt kích thích sự hứng thú học tập từ vựng, một giải thưởng nhỏ được trao cho sinh viên có bộ thẻ từ vựng đẹp nhất. Ngoài ra, mỗi sinh viên được nhận một bản sao của một bộ gồm từ vựng tiếng Anh TOEIC theo những chủ đề nhất định. Mỗi ngày sinh viên được yêu cầu học 3 từ vựng tính từ từ vựng thứ 1 trong danh mục từ vựng. Sinh viên được yêu cầu học từ vựng bằng thẻ theo nhiều cách khác nhau. Cách thứ nhất là sinh viên sau lúc có số thẻ từ vựng nhất định, thì sinh viên cóthể tự học bằng phương pháp nhìn thông tin của một mặt thẻ và đoán thông tin của mặt thẻ kia. Sinh viên cũng có thể nói to hoặc nói thầm thông tin mình đoán nhiều lần viết thông tin mình đoán ra giấy và sau đó xem mặt kia của thẻ giúp kiểm tra. Một cách học thẻ từ vựng nữa là sinh viên cũng có thể học theo cặp. Sinh viên A cho sinh viên B xem thông tin của một mặt thẻ và yêu cầu sinh viên B đoán xem thông tin trên mặt kia là gì. Ngoài hai cách học thẻ nêu trên sinh viên được khuyến khích sử dụng cách học thẻ riêng của họ. Mỗi tuần sinh viên được yêu cầu mang thẻ từ vựng vào giúp kiểm tra. Việc kiểm tra thẻ từ vựng nhằm vào 2 mục đích chính. Thứ nhất là kiểm tra số lượng thẻ sinh viên tự thiết kế xem có đạt yêu cầu về số lượng và giá trị so với số ngày học từ vựng. Ví dụ, trong tuần thứ một vài ít thẻ từ vựng mỗi sinh viên có được là 21 tương đương với 21 từ vựng. giúp đảm bảo là sinh viên có học số từ vựng qui định nhiều lần chỉ thiết kế thẻ từ vựng, lúc mang thẻ từ vựng vào lớp sinh viên được yêu cầu kiểm tra chéo với nhau bằng phương pháp thức việc theo đôi và kiểm tra bằng phương pháp đố nghĩa của từ. Mục đích thứ 2 là việc kiểm tra quá trình học từ vựng cũng hỗ trợ cho sinh viên ý thức được việc học tập từ vựng là nghiêm túc và từ đó có thái độ học tập tốt hơn.

2.3. Sử dụng Minh họa và Hình ảnh

Hình ảnh kết nối sinh viên kiến thức đã học từ trước với một câu chuyện mới từ đó hỗ trợ họ học từ mới. Có vô số từ vựng cũng có thể được giới thiệu bằng phương pháp sử dụng hình ảnh minh họa hoặc hình ảnh. Giảng viên cũng có thể sử dụng những tài liệu học tập được đáp ứng bởi những trường học. Họ cũng cũng có thể tự làm đồ người sử dụng trực quan hoặc hình ảnh được sử dụng từ những tạp chí. Hỗ trợ trực quan hỗ trợ người học hiểu ý nghĩa và hỗ trợ làm cho từ dễ nhớ hơn. Giảng viên thường xuyên sử dụng hình ảnh giúp kiểm tra từ mới và dẫn vào bài học hỗ trợ sinh viên tiếp thu bài nhanh chóng hơn và hiệu quả hơn. Ứng dụng nhân viên kỹ thuật này được đưa vào sử dụng trong từng tiết giảng của và dưới đây là hình ảnh minh họa cho việc sử dụng nhân viên kỹ thuật này:

*

*
*

2.4. Tương phản

một vài từ thuận tiện và tốt nhất được giải thích cho người học lúc đối chiếu nó với từ tương ứng của nó, ví dụ, từ “tốt” tương phản với từ “xấu”. Nhưng một vài từ thì không. Hầu như không thể đối chiếu những từ có đối diện là từ cũng có thể phân loại. lúc từ “trắng” được liên kết với từ “đen”, có một từ “ở giữa” từ màu xám xám. Hơn nữa, động từ “tương phản” có nghĩa là thể hiện sự khác nhau, như những bức ảnh tiết lộ số lượng người đã giảm thăng bằng phương pháp đối chiếu những bức ảnh “trước” và “sau” Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy rằng từ vựng có được tốt nhất nếu nó tương tự như những gì đã học (ví dụ Rudska et al., 1982, 1985), không có gì đáng ngạc nhiên lúc học từ đồng nghĩa là một cách giúp mở rộng vốn từ vựng của chúng tôi. Tìm hiểu về từ đồng nghĩa cũng quan trọng bởi vì đây là cách tổ chức từ điển. Đặt từ điển song ngữ sang một bên cạnh, đơn ngữtừ điển sử dụng những từ giúp giải thích những từ và trong quá trình này, những từ đồng nghĩa thường được sử dụng (Ilson, 1991). (Tạp chí quốc tế về giảng dạy và giáo dục tập. III, số 27 ngày 3/2015)

Bảng liệt kê là một tập hợp những mục hoàn chỉnh, được sắp xếp theo danh sách tất cả những mục trong bộ sưu tập đó, nó cũng có thể được sử dụng giúp trình bày ý nghĩa. Nói cách khác, nhân viên kỹ thuật này hỗ trợ lúc bất kỳ từ nào khó giải thích trực quan. Chúng ta cũng có thể nói “quần áo” và giải thích điều này bằng phương pháp liệt kê hoặc liệt kê những mặt hàng khác nhau. Giảng viên cũng có thể liệt kê một vài dạng áo, váy, quần, v.v. và sau đó, ý nghĩa của từ “quần áo” sẽ trở nên rõ ràng. Điều tương tự cũng đúng với “rau”hoặc “đồ nội thất”, ví dụ (Harmer 1991) .

Giảng viên người sử dụng những từ đã học rồi giúp giảng từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa.

e.g. intelligent

T. asks, “What’s another word for clever?”

e.g. stuppid

T. asks, “What’s the opposite meaning of clever?”

*

2.5. Dịch thuật

Mặc dù dịch thuật không tạo ra nhu cầu hoặc động lực cho người học suy nghĩ về nghĩa của từ (Cameron, 2001), trong một vài trường hợp, dịch thuật cũng có thể có hiệu quả đối với Giảng viên, chẳng hạn như lúc xử lý từ vựng ngẫu nhiên (Thornbury, 2002), kiểm tra sinh viên hiểu và nêu ra những điểm tương tự hoặc khác nhau giữa ngôn ngữ thứ nhất và thứ hai, lúc những thứ này có khả năng xảy ra lỗi (Takač, 2008). Luôn luôn có một vài từ cần được dịch và nhân viên kỹ thuật cũng có thể tính tiết kiệm vô số thời gian.

Phương pháp này chỉ được người sử dụng như biện pháp cuối cùng lúc những phương pháp trên không thể sử dụng được. Giảng viên sẽ người sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ giúp hỗ trợ học viên tìm ra từ mới bằng tiếng Anh.

Vídụ:Teacher: How do you say “nẹp áo” in English?Students: Placket.

Đây là thủ thuật dạy gợi mở trong giảng dạy từ mới. giúp có một giờ học sinh động, cần sẵn sàng kỹ lưỡng giáo án và vật thật (nếu có) trước giờ lên lớp và biến giờ học từ mới thành một giờ học đầy đột ngột và thú vị thông qua nhân viên kỹ thuật dạy này.

2.6. Kết quả nghiên cứu và đề xuất nhân viên kỹ thuật dạy từ vựng

bên cạnh cạnh những nhân viên kỹ thuật trên, còn có những chiến lược học từ vựng mà Giảng viên cũng có thể tính đến. Họ cũng có thể đào tạo sinh viên của mình giúp sử dụng những chiến lược này. Schmitt và McCarthy (1997) đề xuất những chiến lược giúp học từ vựng như sau:

1. đoán từ ngữ cảnh,

2. sử dụng những phần từ và nhân viên kỹ thuật ghi nhớ giúp ghi nhớ những từ và loại từ

3. sử dụng thẻ từ vựng giúp ghi nhớ những cặp từ ngôn ngữ thứ 1.

những chiến lược này được hỗ trợ bởi Murcia (2001), người cũng đề xuất ba chiến lược giúp học từ vựng. Chiến lược thứ một là đoán ý nghĩa từ bối cảnh; tác giả cho rằng một bối cảnh đủ phong phú giúp đưa ra manh mối đầy đủ giúp đoán nghĩa của từ đó. (Tạp chí quốc tế về giảng dạy và giáo dục tập. III, số 30 ngày 3/2015). lúc nhìn hoặc nghe từ mục tiêu, người học được nhắc từ khóa. Chiến lược thứ ba là sổ ghi chép từ vựng; tác giả đề nghị hỗ trợ bộ nhớ trong việc học độc lập bằng phương pháp thiết lập sổ ghi chép từ vựng. Dựa trên những nhân viên kỹ thuật được sử dụng giúp trình bày những chiến lược học từ vựng và từ vựng mới, những thường xuyên gia đề xuất nhiều nhân viên kỹ thuật hơn được cho là hữu ích cho sinh viên học từ vựng một cách thuận tiện và tốt nhất hơn. Những gì những nhà nghiên cứu thấy là cách tốt hơn giúp dạy từ vựng là bằng phương pháp học trong bối cảnh phong phú. Theo Stahl (2005) trong http://www.readingrockets.org. Sinh viên cũng có thể phải nhìn thấy một từ nhiều lần giúp đặt nó chắc chắn trong ký ức dài hạn của họ. Điều này không có nghĩa là lặp đi lặp lại nhiều hơn nữa hoặc khoan từ, nhưng nhìn thấy từ này trong những bối cảnh khác nhau và nhiều. Cuối cùng, giảng viên cũng có thể khuyến khích học sinh giữ một cuốn sổ ghi chép từ vựng vì vô số từ vựng cuối cùng phụ thuộc vào người học. Họ cũng có thể có những sinh viên học ngôn ngữ từ vựng không thành công chia sẻ phương pháp sổ ghi chép của họ. Đối với những sinh viên cần hỗ trợ đỡ, họ cũng có thể trình bày cách thiết lập một sổ ghi chép từ vựng gọn gàng và được sắp xếp theo phương pháp sẽ tạo tình huống thuận lợi cho nhiều lần truy xuất những từ. Nếu máy tính xách tay không được thiết lập tốt, thì người học ít có khả năng thực hành những từ, điều này đánh bại mục đích giữ sổ ghi chú ở vị trí thứ 1. Hơn nữa, lúc trình bày một mục từ vựng theo kế hoạch, Giảng viên thường kết hợp nhiều hơn nữa một nhân viên kỹ thuật, thay vì sử dụng một nhân viên kỹ thuật duy nhất. Giảng viên được đề nghị sử dụng những bài thuyết trình từ vựng theo kế hoạch càng nhiều càng tốt (Pinter, 2006).

3. Kết luận

nội dung bài viết này nhằm làm nổi bật vai trò của việc học từ vựng như một phần thiết yếu trong việc học ngoại ngữ. Mặc dù nó đã mắc phải lãng quên trong nhiều thập kỷ, nhưng trong thập niên 80, nó đã trở thành một chủ đề ‘nóng’ đối với những nhà nghiên cứu. Kiến thức từ vựng là trọng tâm của năng lực giao tiếp và việc tiếp thu ngôn ngữ thứ hai / ngoại ngữ và thiếu kiến ​​thức về từ vựng là một trở ngại cho việc học. Một nỗ lực được thực hiện giúp xem xét những xu thế trong lĩnh vực dạy từ vựng thông qua những nhân viên kỹ thuật khác nhau mà Giảng viên dạy tiếng Anh / EFL sử dụng lúc giảng dạy. Trước lúc trình bày ý nghĩa hoặc hình thức của những mục từ vựng, giảng viên cần giúp ý loại từ vựng, cấp độ của học sinh và đặc thù, và cũng là giá trị của những nhân viên kỹ thuật cho người học. Nói cách khác, tuổi học sinh, trình độ học vấn cũng như trình độ tiếng Anh … vv cũng có thể liên quan đến việc học của họ, vì vậy giảng viên cần nhận thức được những khác nhau này lúc đưa vào sử dụng nhân viên kỹ thuật giảng dạy. Họ cũng có thể đáp ứng thêm cho sinh viên của mình những chiến lược học từ vựng với cơ hội gặp gỡ những từ thường xuyên và trong nhiều ngữ cảnh.

4. Tài liệu tìm hiểu thêm

1. ALI A. ALSAAW, (I2013) Ở mức độ nào giúp đoán ý nghĩa từ ngữ cảnh, có ích trong việc dạy từ vựng. ARECLS ,, Tập 10, 130-146.

2. Annisa, A., (2013) nhân viên kỹ thuật trình bày từ vựng cho những người học EFL. Tạp chí tiếng Anh và giáo dục, 1 (1), 11-20. Tạp chí quốc tế về giảng dạy và giáo dục tập. III, số 31 3/2015

3. Coady, J., &Huckin, T. (biênsoạn) (1997), Tiếp thu từ vựng ngôn ngữ thứ hai, Nhà xuất bản Đại học Cambridge.

4. Carter, R. (1987) Từ vựng: Quan điểm ngôn ngữ ứng dụng.

5. Allen và Unwin. Carter, R., & McCarthy, M. (biênsoạn) (1988), Từ vựng và giảng dạy ngôn ngữ.

Xem thêm: Mị Là Gì – Nghĩa Của Từ Mị Trong Tiếng Việt

6. Norwood, N.J’ Ablex. Folse, K. (2004) đưa vào sử dụng nghiên cứu ngôn ngữ thứ hai vào lớp học. Ann Arbor Nhà xuất bản Đại học Michigan.

7. Gairns, R. & Redman, S. (1986) Hướng dẫn dạy và học từ vựng, Cambridge University Press.

8. Gu, Y. (2003a), Học từ vựng bằng ngôn ngữ thứ hai: người, nhiệm vụ, bối cảnh và chiến lược. Tạp chí điện tử. TESL-EJ, 7, 2, 1-26.

thường xuyên mục: Hỏi Đáp

Nguồn : Tổng hợp

[bvlq_danh_muc]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses cookies to offer you a better browsing experience. By browsing this website, you agree to our use of cookies.